Monday, May 12, 2014

Đất nước những năm không còn buồn?

Trong tuần vừa qua cả dân tộc hướng về biển Đông, nơi đầu sóng ngọn gió với chủ quyền dân tộc thiêng liêng đang bị xâm phạm. Có thể nói Việt Nam đang bị mắc kẹt trong mưu mô xảo quyệt của Trung Quốc. Kế hoạch gặm nhấm hao mòn đang chuyển sang bước ngoặt mới đánh dấu một thời điểm nhạy cảm cho không chỉ vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà là sự thay đổi tự thân bên trong lòng đất nước ta. Vậy lối thoát nào cho chúng ta ? 

Việt Nam đang bị lâm vào thế yếu?

Trong bất kỳ cuộc chiến nào với Trung Quốc hiện nay chúng ta đều đang lâm vào thế bị động, thế yếu. Kinh tế VN phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc (thương mại với Trung Quốc chiếm gần 1/5 tổng thương mại của Việt Nam) trong khi Việt Nam chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ (khoảng 1%) trong  số gần 4 nghìn tỉ đô thương mại của Trung Quốc. Những con số đó đã nói lên một điều, bất kỳ một biện pháp nào về kinh tế nhằm ngăn chặn Trung Quốc thì bên chịu thiệt sẽ là Việt Nam.

Kinh tế là vậy, về mặt quân sự đã tỏ ra quá chênh lệch. Hãy nhìn chiếc tàu 12 tỉ mới bàn giao cho cảnh sát biển VN, có lẽ chỉ bẳng khoảng 1/3 so với tàu coast guard của Trung Quốc. Thời đại bây giờ không giống như cách đây 35 năm trong cuộc chiến tranh biên giới khi chúng ta dùng sức người để chặn bước xâm lược của Trung Quốc, giờ là thời đại của sức mạnh quân sự hạng nặng, cuộc chiến không cân sức này sẽ còn đem lại tổn hại nặng nề hơn cả cuộc chiến tranh biên giới xưa kia. Còn đàm phán ư? Chúng ta liệu có gì để hấp dẫn Trung Quốc hơn biển Đông?

Cộng đồng thế giới có thật sự ủng hộ Việt Nam?

Trước sự căng thẳng ở biển Đông, cộng đồng thế giới ít nhiều đã có những lên phát biểu quan trọng trực diện vào tình hình hiện nay. Tuy nhiên duy nhất chỉ có Nhật Bản là lên án mạnh mẽ nhất hành động trắng trợn của Trung Quốc (có lẽ do họ cũng lâm vào cảnh giống ta), Nga và EU thì im lặng (họ còn đang đau đầu với Ukraine) , Hàn Quốc vào hùa với Trung Quốc, Mĩ và LHQ thì bày tỏ "quan ngại sâu sắc" nhưng những phát biểu của họ chỉ vừa đủ để không làm "phật lòng" Trung Quốc. Còn Asean thì sao, ngoại trừ Philipine đang trực tiếp xung đột với Trung Quốc thì không một nước nào "dại dột" gây mếch lòng "anh bạn lớn" đấy cả. Thậm chí ngay khi tình hình biển Đông đang căng thẳng, Trung Quốc còn hứa hẹn giúp đỡ hiện đại hoá quân đội Campuchia - đất nước ngay sát nách Việt Nam đang chuyển sang nương nhờ "anh bạn lớn".

Nếu nói VN được sự ủng hộ, có lẽ sự ủng hộ lớn nhất đó đến từ nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, lên án trước chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc. Tuy nhiên điều đó không đem lại một sức ép đáng kể nào tới Trung Quốc.

Nếu cần một thế lực có thể tương trợ Việt Nam, trong thời điểm này chỉ có thể là Nga hoặc Mĩ. Nhưng hãy nhìn cách mà Nga im lặng trong bối cảnh cần sự ủng hộ và "lơ" đi của Trung Quốc tại Ukraine, hay sự "quan ngại sâu sắc" và những tiếng nói không mấy trọng lượng của các nghị sĩ Mĩ. Rõ ràng tuy Việt Nam là con bài chiến lược của Mĩ trong sự ổn định và lãnh đạo châu Á nhưng chưa đủ để hy sinh mối lợi ích và thăng bằng với Trung Quốc.

Tại sao Việt Nam đang bị cô lập ?

Chúng ta đang bị cô lập vì hai lý do. Lý do thứ nhất đến từ những phản ứng của Việt Nam với các xung đột trong khu vực liên quan đến Trung Quốc. Bãi cạn Scarborough, quần đảo Senkaku, ... những phản ứng chỉ dừng ở mức độ "kêu gọi các bên kiềm chế" hay "quan ngại sâu sắc" mà chưa kịp tính đến một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ nhận được các phản ứng tương tự như thế khi vấn đề nổi lên ở biển Đông.

Lý do thứ hai, đó là chúng ta "đã, đang và vẫn" được coi là "đồng minh" của Trung Quốc. Mĩ, EU
và Nhật không bao giờ coi Việt Nam là đồng minh khi còn những mâu thuẫn về vấn đề nhân quyền, sự khác biệt về thể chế chính chị và ý thức hệ. Nó giống như chuyện dân trong một ngôi làng đánh nhau, dân làng khác ngó vào và xuýt xoa nhưng họ không can thiệp vì đó không phải là chuyện làng mình. Buộc phải chung ý thức hệ và tư tưởng với Trung Quốc vô hình chung khiến Việt Nam đang bị cô lập với thế giới.

Trung Quốc "muốn" và "sợ" gì ở Việt Nam?

Với sự phát triển mạnh về công nghiệp và quá trình đô thị hoá nhanh chóng, Trung Quốc đang đứng trước cuộc khủng hoảng năng lượng, nhất là khí đốt. Để có thể cân bằng với nguồn khí đốt dồi dào của Nga và Mĩ, Trung Quốc buộc phải tìm mọi cách khai thác và mở rộng lãnh thổ mình một cách triệt để. Và rõ ràng Việt Nam không nằm ngoài mà là quan trọng bậc nhất trong kế hoạch bành trướng đó.

Trung Quốc muốn Việt Nam ổn định về kinh tế nhưng phải là một cậu em ngoan biết phục tùng và nghe lời. Trị được Việt Nam đồng nghĩa với việc cả Đông Nam Á sẽ nằm trong tay cờ của Trung Quốc. Trung Quốc không muốn Việt Nam trở thành "sân sau" của một nước lớn khác cho nên sẽ không bao giờ làm quá tay. Thủ đoạn của Trung Quốc là khiến Việt Nam phải mệt mỏi đối phó mà buông biển Đông. 

Vậy Trung Quốc đang "sợ" gì ở Việt Nam? Thứ nhất Trung Quốc đang sợ một cuộc chiến, dù đó là một cuộc chiến không cân sức nhưng nó sẽ góp phần đẩy Việt Nam ra xa Trung Quốc, gây sự bất ổn trong khu vực và nội địa, sẽ làm giảm sút vị thế của Trung Quốc tại thế giới. Tuy nhiên có lẽ nỗi sợ này chỉ dừng ở mức độ "e ngại" mà thôi.

Thứ hai, Trung Quốc đang sợ Việt Nam thay đổi về thể chế. Một khi Việt Nam thay đổi thế chế chính trị và cơ chế quản lý, đó sẽ là tiền đề đề Việt Nam thoát khỏi thế cô lập, có thêm đồng minh trên thế giới và trực tiếp gây nguy hiểm đến ý thức hệ mà Trung Quốc đang cố gắng mở rộng. 

Lối thoát nào cho chúng ta?

Hãy tạm lắng xuống một quá khứ hào hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm, bởi vì bắt đầu một cuộc chiến thì luôn dễ dàng hơn kết thúc nó (điều đó không có nghĩa chúng ta không sử dụng biện pháp cuối cùng này). Nhưng điều quan trọng hơn bây giờ là tăng cường nội lực để đủ sức chống chọi với bất kỳ thế lực nào. Những tấm gương về sự tự thân vận động tăng cường nội lực như Nhật Bản (cải cách Minh Trị), Israel ( thời kỳ phục quốc sau thế chiến ) có lẽ sẽ đem lại bài học lớn cho chúng ta. Hãy xem cái cách cả thế giới Ả rập phải dè chừng Isarel, hay sự tự do tự tại của Nhật ở châu Á, đó mới chính là đích đến của một nhà nước Việt Nam vững mạnh.

Để đạt được điều đó, trước hết thể chế và cơ chế quản lý phải thay đổi. Không còn những con người rệu rã ăn bám vào cơ chế, không còn sự bòn rút ăn bớt chỗ này chỗ kia, không còn cảnh ụ nổi mua về ngâm cho han gỉ mà cảnh sát biển không có tàu tuần tra, cũng không có những bài thơ của quan chức được đọc trong tù nhưng vẫn được tán dương mà không có một chút xấu hổ.

Đó sẽ là một đất nước mà buổi sáng, buổi chiều nhìn ra đường thấy mọi người tươi vui không sợ tai hoạ trên "trời" giáng xuống, trẻ em đến trường không làm cho tâm hồn thêm vẩn đục, vào bênh viện không phải nằm ra sàn, bộ trưởng không phải rơi nước mắt năm lần bảy lượt, nhà khoa học không phải kiện nhau vì miếng cơm manh áo. Sức mạnh của đất nước không nằm ở vị thế giả tạo hão huyền, nó nằm trong nội lực về kinh tế, sự chân thành trong các mối quan hệ,  sự chia sẻ của cộng động và nỗ lực của từng cá nhân.

Đã sinh ra là người Việt Nam, chịu sự o ép của ngoại bang thì phải biết cách nỗ lực gấp 3, gấp 5 các dân tộc khác. Để đến đời con cháu chúng ta sống một cuộc đời ung dung tự tại, ngước mắt tin yêu mọi người và những giọt nước mắt nhỏ xuống vì hạnh phúc chứ không phải vì xấu hổ!!!

Đất nước những năm không còn buồn

Đất nước những năm không còn buồn
Nửa đêm thức dậy
Ngày mai sẽ là một ngày mai tốt lành
Mỉm cười nhớ con cá hanh ngày nào bơi trên sông vắng
Nay đã gặp một đàn cá hanh khác
Không còn bơi trong vội vàng và sợ hãi
Chợt nhớ mùa đông không còn hoa sữa
Nhưng những ngọn lửa vô hình chưa kịp đặt tên
Chưa bao giờ biết nhạt phai

Em có yêu chốn này không
Ngã tư xà cừ rụng lá
Gió thổi xào xạc trong rặng tre
Con gà gáy hiên ngang ban sớm
Em hứng những giọt sương
Gánh hàng hoa ra giữa chợ
Bỏ đông lại bơ vơ
Có cô bé nhỏ nhà bên
Thương mùa đông loáng ánh nhìn

Ngủ đi ta
Đêm mơ những giấc mơ an lành
Những vết thương liền da
Những ban mai xanh biếc
Dắt con đi trên cánh đồng cổ tích 
Đến chân trời hôm nay mới biết
Thơm ngát hương lúa
Hương biển
Phù sa
Đàn cò trắng bay về trong hoàng hôn tối sẫm
Tiếng ai đùa, ai hát và khói bay
À ơi mẹ gọi ta về
Ngủ đi con
Ngày mai
Đất nước mình
Không còn buồn như ngày hôm qua...

Hà Phương. Tokyo. 2014.05.13

Saturday, March 15, 2014

Ngày xưa trong mắt ai

Trường xưa
Người ta không thể có mọi thứ…

Có một câu chuyện đọc trên blog, trong đó kể một chàng trai và cô gái vô tình lạc đến một thác nước thật đẹp. Chàng trai muốn tắm ở thác nước đó, còn cô gái thì muốn tìm về khách sạn, mau chóng về nhà. Cô nói cô còn bận ôn thi đại học, một trường đại học rất nổi tiếng ai cũng muốn thi vào. Và chàng trai  nói với cô: “Cậu có biết một năm có bao nhiêu người thi đỗ vào trường đó không? Nhiều, nhiều lắm. Nhưng nhìn thấy cái thác nước này bây giờ thì chỉ có hai chúng ta mà thôi.”

Chẳng thể ước mình đi hết thế gian, càng không thể ước mình có mọi thứ. Có những đêm giật mình tỉnh giấc, nhớ lại ký ức thời áo trắng, những khuôn mặt xưa cũ và mọi chuyện tưởng như mới hôm qua.  Cái thời mắt còn long lanh, chỉ biết nói chuyện trong giờ, trêu bọn con gái và đá bóng. Thật may là mình và lũ bạn không ai bị biến thành con mọt sách, nếu không bây giờ sẽ lại ngồi ước ao đủ thứ cho những tháng năm xưa. 

Cãi nhau rồi lại làm lành đến chục lần chẳng ít, bị nó tát cho, đánh cho suốt, mắng đến phát khóc đến mức cô giáo cũng không dỗ được. Nghĩ lại cũng thấy buồn cười, ấy vậy mà chẳng bao giờ giận nó được lúc nào. Lại còn vẫn phải gọi bằng "chị". Cũng vì cô chị này mà mình bị hút dí dị vào cục nam châm trong góc. Ba năm cấp 3, ngồi cạnh tớ, nam châm có thấy chán không?

A dua với bọn kí túc, nào là đi bắt cá, đi chơi cơ, uống bia còn rủ thầy vào uống, ăn xong mới bảo là: "thầy ơi, cá này bọn em bắt trộm đó". Thầy chỉ đưa tiền đi mua thêm bia. 

Chả hiểu anh em từ đâu sáng lập một hội còn giả vờ cắt máu ăn thề, mục đích chỉ là đóng quỹ hội ăn kem với nhau, tên rõ kêu, lại còn có cương lĩnh có họp hành đàng hoàng. Bây giờ mỗi thằng một phương, cũng chưa thằng nào leo Phan Xi Păng thì phải.

Đua xe đạp chán chê với nó, đánh nhau cãi nhau với nó mà cứ ngỡ đang nói chuyện với một thằng con trai. Ấy vậy mà bây giờ nó cũng có con rồi, ai đó khen nó xinh, mình thì mãi vẫn chỉ nghĩ nó là một đứa bạn trai...của riêng mình thôi.

Là thằng bạn đầu têu những lần trốn ngủ trưa đi đá bóng, cũng là hắn dụ dỗ mình Q&S, thay vào đó mình phải làm quân sư cho những mối tình đơn phương của hắn, có lẽ vì thế nên hắn không bao giờ thành công chăng?

Lại còn cái trò nhận chồng vợ loạn hết cả lên, mình cũng có cô vợ lần nào về cũng đòi ôm nhưng toàn bị mình xua đuổi, cũng muốn ôm lắm nhưng sợ ôm rồi về lại nhớ thêm. Thêm cô bạn ngồi đằng sau, suốt ngày tên hai đứa bị ghi vào sổ đầu bài vì tội nói chuyện riêng, hắn luôn nhận mình là "xinh gái" và bị anh em xì cho một tiếng. Bây giờ biết chăng đã là gái xinh của một thằng nào đấy rồi. Tội nghiệp hắn ta heng!

Cậu bạn cao như cái sào của mình, sao cậu lại có thể nghe tất cả những lời tớ ba hoa và tốt với tớ như vậy. Tớ chả làm gì được cho cậu, ngoại trừ cái lần hai đứa lai nhau ra nghĩa trang chơi, tớ vẫn ba hoa và cậu như mọi khi nghe tất cả mọi điều tớ nói. 

Hai cô bạn ngồi bàn đầu, sao mỗi lần nhìn ra cửa sổ các bạn nhìn tớ với con mắt lạ thế, bộ tớ là người điên hử. Còn hai thằng bạn cùng quê nữa chứ, mỗi thằng một tính, nhưng chả hiểu sao ở bên cạnh bọn mày tao thấy chả phải nghĩ ngợi gì nhiều - giống gia đình ấy.

Và cảm hứng của mình, cho một thời sổ thơ được ưu tiên hơn sổ toán, cho cái sự điên điên dở dở được nhân đôi nhân ba và cũng được thăng hoa, tô hồng lên vào thời học sinh trong sáng. Bao giờ bạn ấy lấy chồng đây, không biết mình phải cho vào phong bì bao nhiêu thì vừa nhỉ? Tặng bạn cả sự lãng mạn thời cấp 3 nhé! Sau này bạn tặng lại con mình…! 

Những phút giận hờn, những khi ôm bụng cười như nắc nẻ, những biệt danh “Khoa Nở, Trung Bô, Trung Trạc, Đức Khèo, Dưỡng Bí, Mai Ghẻ, Thanh Lác, Mai Mèo, Chuyên Tưởi, Khang Thiếu gia, Đạt Baby, Linh Cuồng, Hưng Cao, chị Dũng, Phương Thanh, Oanh B, Quân Râu, Hoàn Lại, Huy Hoàng…” là những ngày xưa trong mắt tớ. Tớ đã có những ngày xưa trong mắt mình, nên không còn cần có tất cả mọi thứ nữa, chỉ mong một lần được ngồi ba hoa, được nhìn các bạn qua con mắt long lanh ngày nào...

Rồi mùa hè đã qua, trở lại mái trường xưa

Nhìn lên phía hàng cây, xanh bao la nhớ nhung...

Thursday, February 6, 2014

Đau đầu

Tản mạn một ngày đầu năm 2011 (Chuyện của ông bạn Noa Tharn)

Cả nhà mình đau đầu, ông đau đầu vì việc làm gia phả, bà đau đầu vì gió mùa lạnh, mẹ đau đầu vì cái Tết sắp tới, chị Thơm đau đầu vì thi cử, còn bố, đau đầu vì kí ức của những người bạn không trở về. Ngày còn bé mình hay được bố đọc cho bài thơ của Trần Lê Văn:

Gió rét buốt dọc đường mưa bụi
Trường Sơn xa cây đã đâm chồi
Không gặp được bạn ơi xa ngái
Mời bạn về bạn lặng lẽ thôi

Con đường cũ ngày ta đi học
Cây xanh hơn và sông nước trong hơn
Gió vẫn hát về mùa màng mơ ước
Cánh đồng làng vắng những bàn chân

Thôi bạn ạ thêm một xuân xa vắng
Thêm một xuân bạn chẳng thể về
Không có pháo chỉ có thơ và rượu
Hoa cuối vườn hương gửi người xa

Còn một khổ nữa nhưng viết ra sợ ai đọc lại kêu là dài, ai thấy hay thì họ tự đi tìm hiểu. Đấy là chuyện đau đầu của bố cũng chẳng liên quan gì đến chuyện đau đầu của mình gì cả. Chiều nay thấy đau đầu ghê gớm, đúng hơn là cảm tưởng như cái đầu không còn chỉ đạo được gì, nói ngắn gọn là "đơ".

Ông bảo học trò nghèo ngày xưa có chí lắm, ăn mắm nằm rơm nhưng cũng phấn đấu thi cử để ra làm quan. Mình thì mình nghĩ, thằng nào giỏi cũng mong được đi làm quan thì lấy ai làm dân. Tuy nhiên, việc học cũng không phải cái làm mình đau đầu. Dù sao mức độ quan tâm của mình cũng không cao lắm.

Bà bảo tầm tuổi mày ông mày nhìn thấy bà là đỏ hết mặt lên chứ đâu như bọn trẻ con bây giờ, sao chúng nó bạo thế. Lại nhớ đến chuyện trưa qua, ra bờ đê nằm dưới lũy tre hưởng gió Bấc phơi phới lòng đang hí hửng rằng chẳng có thằng nào ngông như ông, ngoảnh đi ngoảnh lại thấy mấy cặp đang ưỡn ẹo cách đó không xa. Ô nhiễm cả bụi tre làng!

Mẹ bảo Tết này giá cả lên cao quá, nhà có khi phải tính kế làm ăn khác chứ cứ trông mãi vào cây, con, củ thì qua một mùa thất bát cũng đủ để cả nhà lao đao. Đi học qua phố huyện, nhà nhà nhao ra đường giành giật, chặt chém, nông dân như bố mẹ mình có lên sắm Tết thì cũng lại tần ngần đứng nhìn. Khổ!

Chị bảo đang bận ôn thi lắm! Cũng chẳng biết có phải không, thấy gọi điện về bảo đi chơi Noel cũng vui, rồi có khi phải đi học thêm tiếng Anh cho đỡ tụt hậu. Mình lạ gì, lại dạy thêm đến rộc người ra, lần nào về bố mẹ cho tiền cũng bớt lại một nửa.Lúc nào cũng bảo, bố mẹ phải giữ lại cho thằng Than.

Xem ra đau đầu không phải do lỗi của ai cả, đau đầu vì mình nghĩ là đau đầu.
Làm thằng con trai mà, thỉnh thoảng cũng phải đau đầu cho nó người lớn.

Saturday, January 4, 2014

Trên nóc nhà có tiếng chân người (phần 2) - Bao giờ cho đến tháng Mười

Tôi có thói quen viết những câu chuyện lúc mình bận rộn nhất. Cơm áo gạo tiền, học hành, việc này việc nọ, thôi thì tạm dẹp sang một bên. Đã bao lần vì viện cớ không có thời gian mà những câu chuyện cứ lần lượt đến rồi lại đi trong đầu. Viết cho ai, viết để làm gì, viết lúc nào - mà thời buổi này những câu chuyện đó sẽ tồn tại được bao lâu, thây kệ. Viết để cho thấy rằng trong đầu mình và trên đời này vẫn còn có những điều tốt đẹp. Không, đúng hơn là vẫn còn có nhiều điều tốt đẹp...

Hà Phương. 2013.11.19

Có lẽ bạn vẫn nhớ tôi là một cậu bé thích trèo lên nóc nhà người khác. Nếu nói tôi là tên trộm thì cũng đúng một phần, tôi trộm những câu chuyện của người khác để thành ký ức của mình. Và phần lớn những mảng ký ức ấy đều đến từ ngôi làng nhỏ xíu của tôi.

Có ai đó nói với tôi rằng: "Một ngôi làng là một đất nước thu nhỏ", tôi vặc lại "Không, đúng hơn đất nước là một cái làng phóng to". Làng nước - làng là khái niệm xuất hiện trước, có trải nghiệm những năm tháng ở cái đơn vị nhỏ bé, ngày ngày chạm mặt nhau ấy ta mới hiểu sự gắn bó nhiều khi không đến từ máu mủ ruột rà. Ai đó than "Phép vua thua lệ làng", ai đó hét lên "Tao phải đi khỏi cái làng này", ai đó lắc đầu "Cái làng mê muội lạc hậu" có lẽ cũng chỉ biểu hiện của sự "đau đáu" mà thôi. Trên đời này mấy khi người ta đau đáu về những cái to lớn đâu, người ta đau đáu về những cái nhỏ xíu bên cạnh mình, ngày ngày gặm nhấm mình.

Và chủ đề đau đáu của làng tôi dạo ấy là "chị Năm". Đó là một người phụ nữ "đẹp", các bà các chị trong làng thêm vào hai từ "lẳng lơ", “phò". Tôi là một đứa trẻ, sao hiểu được thế nào là "lẳng lơ" nhưng tôi biết từ còn lại, đó là một điều gì đó rất xấu xa với một người đàn bà, tôi nghe mẹ nói vậy. 

Ừ thì xấu xa nhưng chẳng ai có thể phủ nhận được chị Năm đẹp, cái đẹp mềm mại nhẫn nhịn và cam chịu. Nhà chị ở đầu làng, trồng hoa và cứ đến cuối tuần chị lại mang hoa lên thị trấn bán. Chị không có bà con thân thích ở làng tôi, và hình như chị là người miền Nam. Nói hình như là vì chẳng có ai biết rõ nguồn gốc của chị, chỉ biết chị đến làng ở, giọng nói nhẹ nhàng và ngọt ngào khác hẳn với những người phụ nữ quê tôi quanh năm chạy đôn chạy đáo làng trên xóm dưới cho nên giọng nói cũng đanh quánh và ráo hoảnh. Sau này gặp nhiều người con gái miền Nam, tôi biết chẳng phải họ không lo toan, chẳng phải họ không chạy đôn chạy đáo, chính sự mênh mông dàn trải của miệt vườn, của sông nước đã cho họ sự điềm tĩnh, ngọt ngào đến như vậy.

Bà tôi gọi đó là "sự ngọt ngào chết người”. Đáng chết người lắm, vì đàn ông trong làng cũng bị hút theo cái sự chết chóc ấy. Rồi chòng ghẹo, rồi lời ra tiếng vào, rồi vợ chồng hục hặc, rồi người ta xúi giục những đứa trẻ con như bọn tôi gieo rắc những lời độc địa và còn chết chóc hơn cả sự ngọt ngào. Mà trẻ con thì ham vui, chúng nó hò reo và cười nắc nẻ khi chế giễu người khác đâu cần biết nguyên nhân. 

Có lần chị bắt gặp tôi trong đám trẻ hát đồng dao ấy, chị chỉ nhìn tôi và nhẹ nhàng “Sao Đáy nỡ nói chị thế!” - câu nói ấy làm tôi rùng mình đến tận bây giờ khi nghĩ lại cái dáng người mảnh mai, đôi mắt cụp xuống, môi mấp máy và cổ họng như uất nghẹn khi gọi tên tôi. Trong đám trẻ con trong xóm chị biết tôi vì chị và mẹ hay nói chuyện ngoài chợ. Cũng có lẽ vì bố đi bộ đội xa nên mẹ mới “vô tư” mà nói chuyện với chị, vô tư mà bỏ qua bao con mắt dè bỉu của bao người đàn bà khác.

Có lần tôi thấy người ta lôi xềnh xệch chị ngoài chợ, mấy người đàn bà họ xúm vào cấu xé, còn chị  thì khóc lóc van xin. Mẹ tôi phải dùng đến hai cái đòn gánh mới dẹp được đám đông hỗn loạn ấy. Người mẹ mạnh mẽ của tôi đưa chị về nhà, lau rửa những vết thương, xếp lại đống hoa bị dập nát. Chị chỉ khóc, bà tôi ngồi cạnh chép miệng “Đàn bà đẹp khổ lắm con ơi!” 

Dần dần những người đàn ông trong làng cũng thôi không chòng ghẹo chị nữa, duy chỉ có một người hay qua lại ngôi nhà của chị. Đó là chú Phong, chú là thương binh của cuộc chiến tranh Tây Nam, và nếu như theo cách gọi của các chú bên xã thì đó là “phần tử bất trị”. Bất trị theo nghĩa chú ghét phải nói về chiến tranh, ghét phải tham gia kỷ niệm những ngày chiến thắng, ghét phải tham gia bất cứ tổ chức nào. Chú bảo với người khác, chiến tranh bản thân nó đã là tội ác, các ông đừng bắt tôi lôi nỗi đau của minh ra để tự hào.

Vậy mà chú Phong không ghét chị Năm, chí ít là không ghét đến nhà của chị, cuốc xới mấy luống hoa, sửa lại hàng rào, bậu cửa. Có lần về khuya tôi trèo lên nóc nhà chị, nghe thấy giọng nói của chú: “Năm hát cho anh nghe đi!”. 

“...Đường dù say ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu…"

Tôi đoán không chỉ có tôi nghe thấy giọng hát của chị Năm. Mấy hôm sau người ta gọi chú Phong ra xã, kêu mất lập trường, chú đập bàn kêu “Lập trường cái m. các ông, cứ giỏi thì xông vào, các ông không để cho Năm yên đừng trách tôi.” Đấy là tôi nghe thằng Long kể lại vì bố nó làm bảo vệ ở xã, nó thêu dệt hay không tôi cũng chịu.

Nhưng có một điều hoàn toàn không thêu dệt là bụng chị Năm ngày càng to lên, tiếng bàn tán ngày càng nhiều. Chú Năm cũng không thấy qua nhà chị nữa. Làng tôi lại râm ran câu chuyện ai là bố đứa trẻ, những tiếng cãi vã và đập phá lại nổi lên, vài người hiền hơn thì nghe ngóng chờ đợi đứa trẻ ra đời sẽ giống ai.

Đứa trẻ ấy ra đời chỉ có bà, mẹ, tôi và chú Phong chào đón nó. Tôi không còn nhớ rõ cảm giác bế trên tay một sinh linh bé bỏng mới chào đời, vì tôi quá bất ngờ, bất ngờ vì đứa trẻ, bất ngờ vì ở bên chú Phong gục trên vai mẹ tôi mà khóc. Hệt như cái đêm chị Năm hát mấy câu lạ lùng.

Lạ lùng hôm nữa là vài hôm sau ở nhà chị Năm xuất hiện đám người lạ, họ đi xe con đời mới, có cả bác sĩ lẫn y tá mặc áo blouse trắng, có cả đám đông bặm trợn mà thằng Long bấm tay tôi “Xã hội đen đấy mày đừng đụng vào”. Tôi nhìn qua cửa sổ thấy có một người đàn bà ăn mặc sang trọng, dúi vào tay chị một bọc gì lớn lắm, rồi giằng đứa bé đưa cho cô y tá. Chị tần ngần rồi quẳng bọc đó đi, gào thét điên dại giành lại đứa bé. Chẳng mất mấy công sức người ta có thể đẩy chị ra, nhưng tiếng thét của chị khiến người trong làng đổ đến rất nhanh mặc dù không ai dám vào can ngăn vì cái đám đông bặm trợn ấy đang án ngữ ở sân. 

Tôi chạy đi gọi chú Phong, chú nghe tin nhảy bổ ra xông thẳng vào kêu lên “Bỏ con tao ra ngay”. Đám đông bặm trợn xông vào, chú đá văng từng thằng một. Duy có tên đầu sỏ râu quai nón nãy giờ đứng ngoài quan sát giờ mới nhảy ra, hắn ém người lại hai bàn tay chụm lại như giống hổ vồ mồi đi vòng quanh. Chú Phong vén tay áo lên để lộ vết sẹo sâu hoắm nơi bả vai chuẩn bị thủ thế thì đột nhiên đối phương của chú khựng lại: “Trời ơi, anh Phong, em Tư bèm đây” - hắn kêu lên bằng giọng miền Tây đặc sệt. Chú Phong cũng lắp bắp: “Tư bèm, sao..sao… mày ở đây”. “Em sẽ kể sau, em đã đành, sao anh giờ cũng đến nông nỗi này, em đã ngờ ngợ nhưng nếu không có vết sẹo em đã bị anh đánh chết rồi”. Dân làng tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra thì Tư bèm - tên đầu sỏ vội ngoắc tay ra hiệu đàn em rút lui, quay lại gằn giọng với người đàn bà sang trọng kia “Tui không làm việc này đâu, để lại đứa trẻ và về ngay không thì đừng trách thằng Tư này”.

Đám đông vội kéo đi nhanh như họ đến, và cũng chỉ còn lại bà, mẹ, tôi và chú Phong ở nhà chị Năm. Chị Năm ôm đứa trẻ khóc, chú Phong ngồi bậu cửa ưu tư, mẹ tôi chửi đổng quân mất dạy nào đó, còn bà tôi chép miệng: “Đàn bà đẹp khổ lắm con ơi!”

Đêm đó tôi lại leo lên nóc nhà chị, thấy ánh đèn le lói và chú Phong ngồi như hoá đá ở giữa nhà. 

- Phải đi thôi Năm
- Nhưng đi đâu bây giờ anh Phong.
- Đi vào trong kia, chỗ nào có thể nuôi được đứa trẻ.

Sự im lặng đáng sợ bao trùm một lúc lâu. Chợt chị Năm nói nhỏ: “Anh có nghe thấy trên nóc nhà có tiếng chi không? “ - “Ừ có, nghe như có tiếng chân người”

Bị phát hiện, tôi trườn xuống và chạy một mạch về nhà đắp chăn ngủ dù trong đầu còn một mớ hỗn độn. Sau đêm đó tôi bị sốt li bì, trong cơn mê thấy có ai như chị Năm rờ tay lên đầu, bàn tay mát lạnh. Chú Phong đứng cạnh cười, mẹ tôi ôm đứa trẻ sụt sịt, bà tôi thì cầm tay chị chép miệng “Tay lạnh thì ấm lòng”. Đó cũng là lần cuối cùng tôi nghe thấy tiếng của chị Năm và chú Phong. Khi ốm dậy mẹ tôi bảo chú Phong và chị Năm đã đi từ tối hôm đầu tiên tôi đổ bệnh.

…......

Những năm về sau khi đã là một chàng trai trưởng thành,  vào Sài Gòn tôi tình cờ gặp lại chú Tư “bèm”, mà cái sự tình cờ với cuộc đời của chú cũng là một câu chuyện dài. Tôi hỏi có biết gì về chú Phong và chị Năm không. Chú bảo biết rõ, rất rõ là đằng khác. Đứa trẻ cũng sắp thành thiếu nữ rồi, đẹp y mẹ nó. Tôi đánh bạo hỏi có giống chú Phong không. Chú nhìn tôi và hỏi lại “Vậy cả làng mi không biết chiến tranh lấy đi của anh Phong cái gì sao.” Vậy sao, tôi nhờ chú nhắn cho chú Phong và chị Năm, rằng hãy liên lạc với thằng Đáy này, rằng hãy một lần về thăm quê, rằng làng mình khác xưa rồi, rằng bà và mẹ vẫn mong 3 người như xưa, rằng ngày xưa thăng Đáy thường nghe trộm “Dạ cổ Hoài Lang” của chị Năm mà đến giờ nó mới biết dư chừng như thế.

Rằng còn nhiều chuyện trên nóc nhà lắm…!

…….

Hôm nọ tôi nhận được thư của chú Phong, trong đó có câu thơ như thế này, mạn phép chú lấy làm tựa đề cho câu chuyện của tôi:

Bao giờ cho đến tháng Mười
Lúa chín trên cánh đồng giông bão

Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi
Những mất mát hi sinh, khổ đau, chịu đựng


Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu…

Chẳng biết thơ của chú hay của ai nữa.

Tokyo. 2014. 01. 04





Friday, January 3, 2014

Trên nóc nhà có tiếng chân người (phần 1)

Mở đầu: Tôi thích những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư vì ngòi bút thật, chân thành,  nhưng vẫn sắc nhọn của chị, đến nỗi gập cuốn truyện lại rồi vẫn thấy gì đó dai dẳng, nửa đau nửa hi vọng, thôi thúc cồn cào ta phải nghĩ, phải bắt tay vào làm. Tôi không muốn mình bắt chước cách viết nào đó, nhưng có điều gì đó khiến tôi đặt bút viết trong một căn phòng cao ốc với máy tính với những con số nhảy múa xung quanh.

Chỉ để viết tiếp câu chuyện đầu tay thời thơ ấu còn dang dở. Những câu chuyện về tình yêu thương mà tôi ấp ủ bấy lâu.  Bạn đừng vội phán xét nhé, đó chỉ là một cuộc hành trình của một cậu nhóc mà thôi. Hành trình đó mang tên: "Trên nóc nhà có tiếng chân người".

Hà Phương. 2013-08-09

Kỳ 1:  Người lái tàu và những lời nói dối


Tôi là một thằng nhóc thích độ cao, thích đến nỗi tôi mong muốn cái tên của mình cũng phải thể hiện sự yêu thích đó kiểu như: Đỉnh, Vươn, Nhất, hay đại loại là cái gì đó cao hơn những thứ khác. Vậy mà tên cúng cơm của tôi lại đi ngược lại hoàn toàn với những yêu thích đó: "Đáy".

Mẹ tôi kể rằng hồi mẹ mang thai tôi đúng mùa mưa bão, bố đi bộ đội xa, nhà chỉ có bà nội và mẹ. Năm ấy căn nhà có tuổi thọ mấy chục năm mà các cụ để lại gồng mình lên chống đỡ những trận mưa rào nặng hạt, những trận bão gió quật không thương tiếc như muốn thổi bay tất cả. Sau cơn bão, nóc nhà nào nhà nấy tơi tả, mẹ tôi là người xốc vác càng không thể để căn nhà chất đấy xô chậu hứng nước mưa rơi lộp độp,và dù cho mang thai tháng thứ chín, mẹ vẫn trèo lên lợp lại những viên ngói vỡ mặc cho bà can ngăn hết lời.

Và mẹ đau đẻ tôi ngay trên nóc nhà mình. Mẹ kể khoảnh khắc đó chỉ muốn xuống thật nhanh, lo cho mẹ thì ít mà lo cho tôi có thể chui ra bất cứ lúc nào ngay trên nóc nhà ấy. Và để minh chứng cho cái sự lo lắng đó, bố mẹ đã đặt tên tôi là "Đáy" - đối lập với nơi tôi định nhao ra - "nóc".

Thằng Đáy sinh ra, lớn lên theo đúng mong ước của nó lúc mới chào đời. Địa điểm đóng quân của tôi luôn là một nơi có độ cao đặc biệt, đặc biệt đến mức bà nội hay mắng yêu tôi: "muốn tìm được thằng Đáy lúc nào cũng phải ngửa mặt lên trời, mỏi hết cả cổ". Đúng vậy, vừa thấy tôi trên đỉnh đồi, thoáng một cái đã leo chót vót lên ngọn cây dừa, hay chồm hỗm trên nóc nhà ai đó nhai nhồm nhoàm mấy quả xoài xanh vặt trộm.

Làng tôi nghèo, cái sự nghèo dở dở ương ương - kiểu như trẻ em vẫn có dép nhựa để đi nhưng cả làng không có nhà nào hai tầng cũng chả có ai có công nông. Và thế là nóc nhà thành nơi lý tưởng với một đứa thích độ cao như tôi. Tôi thích cái cảm giác đứng trên nóc nhà chông chênh, dụi dụi chân vào mái ngói toàn rêu trơn tuột. Tôi cũng thích cả cảm giác nằm ép mình xuống trụ giữa giữ thăng bằng, hai chân quàng ra hai bên mái và lim dim ngủ, chỉ có mình, trời và cái nóc ấy, đến cơn gió cũng không nỡ vô tình thổi mạnh làm ngã.

Làng tôi chỉ cách đường tàu có vài chục mét, thế nên lũ trẻ chúng tôi nghe tiếng còi tàu để thức dậy, để về ăn cơm trưa, hay để kết thúc cho một ngày lấm lem lăn lộn ngoài đồi. Nếu bạn là người yêu thích những con tàu, và nếu bạn có thói quen nhìn qua cửa sổ ngắm những vùng đất bạn đang đi qua, có khi nào bạn bật cười khi nhìn thấy một lũ trẻ ngồi trên lưng trâu tay cầm đống cỏ lau phất phất và hò reo ầm ĩ, có khi nào bạn để ý đến một cậu bé đứng trên nóc nhà, người gầy nhẳng, hai tay giơ cao hươ loạn xạ và rú lên như điện dại khi tiếng còi tàu nổi lên. Nếu chỉ một lần thôi bạn nhìn thấy những cảnh tượng đó, biết đâu bạn đã đi qua ngôi làng của tôi.

Lũ trẻ chúng tôi ngưỡng mộ những con tàu, và vì thế thần tượng những người lái tàu, đồng nghĩa với việc yêu quí anh em thằng Tí. Bố Tí - chú Dân - một người lái tàu vĩ đại đáng mến, là thần tượng của bọn trẻ trong làng chúng tôi. Mỗi lần chú về làng, bọn trẻ con lại có quà, mỗi lần một khác đến nỗi chúng tôi không còn nhớ mùi vị các loại bánh kẹo như thế nào nữa. Câu quen thuộc của chú khi gặp trẻ con là "Ngoan nhé, lớn lên chú cho theo đi tàu!"

"Lớn lên được đi tàu" - ước mơ cao cả đó mà bây giờ nói ra có lẽ sẽ bị bọn trẻ con hếch mũi lên cười, ít ai biết với chúng tôi đó là mục tiêu, là chuẩn mực của việc "lớn lên", đến nỗi chúng tôi hay đe nhau "mày còn thế tao bảo chú Dân không cho mày đi tàu đâu". Và như lẽ đương nhiên, chúng tôi và cả làng yêu quí, nâng niu anh em thằng Tí hết mực. Tí 5 tuổi, và cái Là em nó mới có 3 tuổi, hai anh em nó dễ thương đến nỗi ngay cả không phải chú Dân là lái tàu cũng chả ai nỡ bắt nạt bọn nó. Đánh trận giả bên nào cũng tranh giành thằng Tí cái Là về bên mình, có lần trận giả chưa đánh mà vì giành anh em Tí bọn tôi đã tương nhau sứt đầu mẻ trán.

Trong những nóc nhà, tôi thích được leo lên nhóc nhà thằng Tí nhất, vì đó là nóc nhà của "người lái tàu vĩ đại". Nhưng một hôm, từ khi khám phá ra "bí mật" của người lái tàu vĩ đại, tôi đã từ bỏ địa điểm yêu thích đó.

Hôm ấy, như thường lệ đang nằm thiu thiu ngủ trên nóc nhà Tí, tôi chợt nghe thấy tiếng Tí nói chuyện với mẹ:
- Mẹ ơi, hôm nay anh Tèo con bác Hoan mang cho con mang cho con 10 cuốn vở. Anh ấy bảo để con tập viết chữ đi học.
- Chết! Cô Hoa - mẹ Tí ngạc nhiên, sao không bảo mẹ sớm, để mai mẹ gửi tiền bác ấy.
- Nhưng anh ấy bảo bố gửi tiền rồi. Hôm nọ, ra chợ bác Hiền cũng bảo từ nay sáng cứ ra chỗ bác ăn quà sáng, bố gửi tiền cả rồi. Sao bố tài thế hở mẹ, ở tít xa mà vẫn gửi được tiền về.
- Ừ, tiếng cô Hoa ngập ngừng, bố thương hai đứa lắm, giờ hai đứa ngủ sớm đi kẻo bố giận nhé.
- Vâng ạ!

- Hoa ơi, ngủ chưa em! tiếng ai như tiếng bác Lanh làm máy xát trong làng.
- Dạ chị Lanh ạ, em chưa, chị đợi em lát.
- Để bọn trẻ ngủ, ra đây chị bảo.
- Vâng, có việc gì đấy chị.

- Bọn trẻ ngủ chưa, bác Lanh thì thầm.
- Rồi chị ạ, cả ngày chạy nhảy, tối đặt lưng xuống là ngủ luôn.
- Vậy à, này chị có hai bộ quần áo này cho thằng Tí với cái Là, hôm nay may cho hai đứa nhà chị, tiện công may cho hai cháu nhà cô luôn. Cô cầm lấy cho chúng nó mặc, không phải tiền nong gì đâu.
- Không, em không nhận đâu, bác may cho cháu thì để em gửi tiền.
- Yên, cho bọn trẻ ngủ, tiền nong gì ở đây. Chú Dân tốt với cả làng, làng không tốt được với vợ con chú ấy hay sao.
- Vâng, nhưng..
- Không nhưng gì cả, cầm lấy không mai tôi không cho nhà cô xát thóc đâu. Thế cô không định đưa chú ấy về à, còn giấu bọn trẻ đến bao giờ.
- Vâng, nhưng bọn trẻ còn bé quá chị ạ.
- Rõ khổ, bác Lanh thở dài. Chú ấy cứu cả đoàn tàu còn mình thì không cứu được. Người như chú ấy sao lại đi sớm thế chứ. Mà này, sao trên nóc nhà nghe như có tiếng chân người nhỉ?

Nghe đến đây, tôi bàng hoàng chợt hiểu ra tất cả. Thì ra đã nửa năm nay chú Dân không về nhà là vì điều đó, tôi cũng loáng thoáng nghe mẹ nói về vụ tai nạn tàu ở đâu đó nhưng không thể ngờ được người đó lại là chú Dân. Trong đầu tôi là một mớ hỗn độn, không để ai phát hiện, tôi từ từ trườn xuống rồi lặng lẽ đi về nhà. Chú Dân mất đi, nếu biết chuyện anh em thằng Tí sẽ ra sao, bọn trẻ trong làng sẽ ra sao. Tôi cũng lờ mờ nhận ra ý nghĩa của câu "bố gửi tiền về rồi" và những điều yêu thương cay xè nước mắt mà những người lớn đang dành cho anh em Tí. "Bọn trẻ còn bé quá!" - tôi nhớ lại lời cô Hoa, và sau đêm đó quyết định chôn chặt "bí mật" mà mình phát hiện. Sáng tinh mơ, mắt còn sưng vù vì một đêm không ngủ, tôi chạy sang nhà Tí đưa cho nó tất cả các chiến lợi phẩm mà từ trước tới nay tôi có được. "Bố em gửi về đấy?" - tôi nói vội một câu rồi chạy về, không nhận ra thằng bé đứng như trời trồng do mới ngủ dậy hay quá đỗi ngạc nhiên như một điều kỳ lạ từ trên nóc nhà rơi xuống.

Sau này, khi "lớn lên" thực thụ, khi lần đầu tiên được đi tàu hỏa, tôi đã kể câu chuyện đêm đó cho thằng Long - một trong những chiến hữu của mình hồi nhỏ, cũng cùng trên chuyến tàu với tôi. Nghe xong, nó trầm ngâm và bảo: "Hồi đó tao cũng nghe lén được bố mẹ tao nói chuyện với nhau, cũng đau lắm nhưng tao cũng quyết định như mày, không nói với ai. Tao cũng bắt chước người lớn, lén đem tiền mừng tuổi mua cho thằng Tí cái cặp rồi bảo là chú Dân gửi về. Tao vẫn còn nhớ lúc nó nhảy cẫng lên vì sướng, còn tao thì rớt nước mắt."

"Uh, bây giờ thì ai cũng lớn và cũng biết hết chuyện rồi. Có điều, người lớn làng mình đểu quá, toàn nói dối trẻ con"
"Uh," Long khẽ cười như khẳng định. "Làng mình đểu thật đất mày nhỉ!"

Không ai bảo ai, tôi với nó đều nhìn ra cửa sổ, chợt nhận ra con tàu đang đi qua ngôi làng của mình.
"U u u....."

Kìa, trên nóc nhà có tiếng chân người...

Tokyo. 2013-11-06

Nếu chưa đặt xuống thì xin đừng buông tay

Hồi nhỏ mỗi lần múc nước ở giếng mình rất tham cứ phải múc cho thật đầy rồi lặc lè kéo lên nhấc qua khỏi miệng giếng đặt phịch xuống đất một cái làm nước bắn tung tóe có khi vơi đi một phần ba. Có lần bố nhìn thấy thế nghiêm mặt lại nói rằng: "Đã mất công xách gầu nước lên thì phải đặt xuống cho tử tế. Nếu chưa đặt xuống thì đừng buông tay ra. ". Mình vâng vâng dạ dạ nhưng rồi chứng nào tật nấy, hả hê kéo được thùng nước lên là phải cộp một cái rõ to vào sân giếng đã, rồi  ngồi thờ hổn hển mặc nước có sóng sánh ra ngoài bao nhiêu đi chăng nữa.

Cũng hồi nhỏ, mình bê đồ nóng rất kém, mấy lần bê canh cho mẹ từ bếp lên nhà, vì không chịu được nóng đã buông tay ra, đi đời mấy cái bát liền. Bố thấy vậy chỉ lắc đầu bảo: "Ẩu quá, thấy nóng sao không đặt tạm xuống đâu đó."

Mình cũng có cái tập dựng chân chống xe không cẩn thận, trụ còn chưa vững đã nhanh nhanh chóng chóng buông tay làm con chiến mã màu mận chín không biết bao nhiêu lần lăn kềnh, mình mẩy sứt sẹo, ốc vít cứ gọi là long sòng sọc. Mỗi lần sửa xe, bố lại mắng "Sao người ta đi bao nhiêu năm không sao mà thằng này đi có mấy ngày mà hết méo cái này vẹo cái kia thế hả?".

Nhà nội trồng vải, mùa hè đến là mình lại vác quần áo về nội, tung hoành ở vườn, leo trèo chạy nhảy chán chê. Thường thì vải thu hoạch được ông bà sẽ gọi người đến mua tận nhà nhưng thỉnh thoảng bà cũng trảy một hai thúng đem ra chợ sớm bán để lấy tiền đi chợ, mua quà sáng cho cả nhà. Mình nhớ có hôm, sáng dậy cùng bà sốt sắng xếp vải vào thúng để bà đi chợ, rồi đánh răng rửa mặt ung dung đợi bà về vòi quà sáng. Lần ấy chả hiểu sao bà về sớm lắm, quà sáng vẫn có nhưng thúng vải thì còn hơn nửa. Mình chả hiểu lý do làm sao, chạy ra hỏi bà: "Bà ơi, sao hôm nay bà về sớm thế, hôm nay không có người mua vải ạ?". "Có nhiều người lắm" – giọng bà buồn buồn, "nhưng vải bị dập nhiều lắm cháu ạ, họ không mua". Mình nhìn vào thúng vải, đúng là còn lại những tùm bị dập, bị nứt, nhựa vẫn chảy và cùi vải trắng lộ ra chứng tỏ nó chỉ vừa bị dập mới đây thôi. Mình giật mình, có lẽ nào, tại lúc xếp vào thúng quăng mạnh tay quá chăng, bèn quay lại bảo bà "Bà ơi, chắc tại lúc nãy cháu xếp vào thúng quăng mạnh tay quá". "Không sao đâu cháu ạ, chắc tại cháu chưa quen, với lại nứt một chút thì mình để ăn cũng được. Chỉ thương cho mấy quả vải, mới sinh ra lành lặn đẹp đẽ mà giờ nứt vỡ bị người ta chê." Nhà nhiều vải, có nứt một ít thì cũng chả có gì là ghê gớm, nhưng nghe bà nói vậy, tự dưng mình nhớ tới câu nói của bố và lặng đi suy nghĩ: "Nếu chưa đặt xuống thì đừng buông tay ra". Sau lần ấy, mình rất cẩn thận khi cầm hay đặt vật gì đó, trước khi buông tay ra bao giờ cũng tìm cho nó một chỗ tựa hay nơi để vững chắc.

Lớn lên, câu chuyện chả dừng ở việc bê đồ hay khuân vác, ra ngoài xã hội càng thấy bài học đó trở nên có giá trị. Thỉnh thoảng người ta vẫn buông tay nhiều thứ trước khi đặt chúng xuống chắc chắn và hậu quả là sẽ là rơi vãi, thiếu hụt hoặc có thể đổ vỡ tan tành.

Có những đứa trẻ được đưa đến trường và trước khi chúng được ngồi ngay ngắn cẩn thận ở cái ghế trong lớp học, chúng đã bị buông tay ra phó mặc cho bàn tay nhào nặn của một vài cá nhân, có khi của cả xã hội chay đua thời thượng, kết cục chúng bị hoang mang, bị khuyết tật tâm hồn và sống vì bề nổi. Nặng hơn là đánh rơi một phần nhân cách trong suốt cuộc đời.

Có những con đường trước khi yên bình nằm trên đất mẹ cũng bị buông tay cho bao thứ đè nén để chẳng mấy chốc chúng bị trồi lên sống sượng, gồ ghề, xấu xí. Cũng có thể sẽ nứt toác, tan vỡ, xù xì. Có những tình yêu trước những khó khăn thử thách, hạnh phúc chưa đặt vào tay nhau đã vội buông tay ra, dù chỉ cần cố gắng một chút thôi, chờ đợi một chút thôi. Nếu muốn buông tay, hãy để hạnh phúc chạm tay đã, như thế dù có buông tay, hạnh phúc vẫn sẽ ở lại bền vững. Lúc ấy thì chẳng cần tay giữ hạnh phúc nữa, hạnh phúc đã thành của chung rồi.

Có những niềm tin, gửi cho ai đó và khi niềm tin còn bơ vơ tìm bến đỗ người lại buông nó ra, niềm tin sẽ lại trôi đi mất. Khi niềm tin của ta nằm bình yên trong tâm hồn ai ta mới đi nắm tay một niềm tin khác, dắt nó đi và đặt nó ở một tâm hồn khác. Có như thế ta mới tin được nhiều người! Và ngược lại trước khi buông tay hãy để niềm tin của ai đó đặt chân trong tâm hồn ta, có như thế ta mới có được nhiều niềm tin từ người khác.

"Nếu chưa đặt xuống thì xin đừng buông tay". Sau này mình sẽ dậy con mình như thế và bây giờ mình cũng đang sống như thế. Chừng nào hạnh phúc chưa nằm trong tay nhau, chưa là điều thiêng liêng chung của nhau mình sẽ không buông tay hay nản bước. Nếu khi nào buông tay, đó không phải là cái buông đổ vỡ hay rơi rớt, nó sẽ là cái buông để nhìn ngắm hạnh phúc đang có được trước khi ôm lấy nhau. Như vậy nếu theo đúng thứ tự thì sẽ là: "Đặt xuống, buông tay và ôm lấy nhau!"

Rốt cuộc, mọi câu chuyện đều quay lại với tình yêu.


Từ trên cao nhìn xuống

Từ trên cao nhìn xuống

Japan. 28/02/2009
Tặng Bách và chị Trang

Cuộc sống dưới những con mắt

Từ lâu rồi tôi đã quen với cảm giác có một ai đó ở trên cao quan sát, để ý đến từng hành động, từng cử chỉ, từng lời nói của mình. Cảm giác đó không đem lại một sự sợ sệt, dè chừng mà trái lại nó giúp tôi thận trọng trước mọi quyết định, giúp tôi thêm kiềm chế, thêm yêu thương, thêm cả phản kháng và giận dữ.

Khi tôi đem điều đó nói với một người bạn. Cậu ấy nói rằng không thích sống như thế. Không thích phải sống tốt vì sợ ai đó trừng phạt, không thích phải sống tốt vì hi vọng sau này mình sẽ được đền đáp, không thích phải gồng mình trong một vỏ bọc nào đó. Cậu ấy thích sống tốt theo tự do, theo bản chất, theo những gì thật nhất của con người - điều đó mới thực đáng trân trọng.

Nhiều khi tôi cũng băn khoăn vì có những vỏ bọc mình đã tạo ra, băn khoăn vì những phút giây giả dối, không thật như đúng bản chất của mình. Tôi cũng băn khoăn vì những gì bạn tôi nói, rằng có thật mình đang gò bó, có thật mình đang sợ sệt, có thật mình đang lo lắng cho tương lai, cho hậu quả của những hành động hôm nay.

Tôi biết có những giây phút mình như thế nhưng chưa bao giờ do lỗi của những con mắt từ trên cao cả. Đó không phải là con mắt của sự trừng phạt, giận dữ, càng không phải con mắt của vị Phật nào đó soi xét hành động kiếp này để ban cho một kết cục tốt đẹp kiếp sau. Đơn giản chỉ là những con mắt chờ đợi và hi vọng, trông mong một điều gì đó nơi tôi, trông mong một điều gì đó nơi tôi,...

Lúc nào tôi cũng khắc khoải vì những con mắt từ trên cao nhìn xuống!

Người trẻ tuổi

Có một cụm từ mà những người lớn tuổi hay nói "cái tôi của tuổi trẻ". Tất nhiên không phải tự dưng mà có cụm từ ấy, có lẽ từ lâu rồi, "tuổi trẻ" thường được gắn với sự thâu tóm thế giới trong một con người. Nó hình thành cái tôi cá nhân, - cái tôi đáng trân trọng và có những lúc đáng ghét mà Xuân Diệu từng thốt lên:

"Ta là một là riêng, là thứ nhất
Không có ai bè bạn nổi cùng ta".

Người trẻ tuổi có lý khi tôn sùng cái "tôi" của mình, nếu không có cái "tôi" thì những khái niệm "trẻ" - "già" có lẽ chỉ dừng ở sự phân biệt tuổi tác. Người tuổi trẻ khao khát in dấu vết tất cả mọi thực tại vào tư tưởng của mình, đem vào trong tâm hồn mình những cội nguồn của hạnh phúc. Ước muốn của người tuổi trẻ đặt cơ thể yếu ớt và non nớt của họ vào trạng thái bình tĩnh vĩnh viễn nhưng cũng có thể thiêu đốt và hủy diệt chính họ. Người trẻ tuổi lao vào những cuộc đấu tranh nhưng không phải vì vinh quang rẻ rúng, đơn giản là người trẻ tuổi không cần đến nó. Người trẻ tuổi gắn đấu tranh với bản thân mình như một cách để duy trì sự sống.

Nếu như những người già thường ngước mắt sáng suốt nhìn lại dĩ vãng thì người trẻ tuổi lại dát ngọc cho hiện tại bằng quá khứ, thông thường họ nhiều ước mơ, hoài bão nhưng không thiếu những ảo tưởng, những ước vọng viển vông tựa hồ như đang leo lên một quả khí cầu mà không biết nó bay về đâu, không biết bao giờ nó rơi xuống. Vì thế người trẻ tuổi dễ lâm vào cảm giác tuyệt vọng, có khi chỉ đơn giản khi họ đứng trước một bức tường sừng sững, đi vào tận cùng con đường, vào những ngõ cụt cũng có thể gây ra một sự thất vọng, chán chường nào đó.

Nếu ai đã từng đọc "Chiến tranh và hòa bình" có lẽ không quên hình ảnh một Pie ngơ ngác ở Petecbua, một Andrei với những thất vọng tràn trề. Đó là những người trẻ tuổi. Không, đó là những người trẻ tuổi không có những con mắt từ trên cao nhìn xuống.

Những câu hỏi

Từ khi những con mắt trên cao chưa đến, tôi là một người trẻ tuổi cô đơn. Đầy hoài bão, đầy ước mơ, đầy yêu thương nhưng những thứ đó phần lớn từ trong sách vở, lúc nào cũng canh cánh một điều to tác, lúc nào cũng nhìn những người xung quanh mình với một thái độ đối lập, nghĩ rằng họ khác mình, họ không hiểu được những gì mình suy nghĩ.

Người trẻ tuổi đi đâu cũng vậy, đi đâu cũng có cụm từ "tôi và phần còn lại của thế giới". Người trẻ tuổi không biết một điều đơn giản là những người khác cũng như vậy. Một anh chàng mọt sách, một cô nàng son phấn đỏng đảnh, một cậu công tử đàn đúm ăn chơi,...ai cũng nghĩ mình thật khác biệt, ai cũng nghĩ rằng chẳng hai hiểu mình. Và cảm giác ấy làm người trẻ tuổi dễ lâm vào hố sâu của sự thất vọng.

Tôi đi hỏi những vị đã thành đạt, hỏi về tuổi trẻ của họ, hỏi về điều gì khiến họ có thể vượt qua những giây phút lung lay nhất của tuổi trẻ và nhận được những câu trả lời như bao cuộc phỏng vấn khác: đam mê, lý tưởng, hoài bão, ước mơ. Chẳng có điều gì khác người tuổi trẻ chúng tôi cả.

Và vẫn như thế, không có câu trả lời, đâu đó ở những góc phố vẫn có người trẻ tuổi đập đầu vào tường, đâu đó trên sân thượng vẫn có người trẻ tuổi gào thét, đâu đó trong những ngôi nhà vẫn có người trẻ tuổi lăn lộn bên những trang sách, bên những dòng chữ "sống" - "chết", đâu đó trên những con đường vẫn có những người trẻ tuổi lao mình vào cuộc sống vội vàng, chơi vội vàng, học cũng vội vàng, suy nghĩ cũng vội vàng.

Người trẻ tuổi có những quãng thời gian sống giống nhau!
  Người trẻ tuổi tìm câu trả lời cho những câu hỏi giống nhau!


Những con mắt từ trên cao

 Một buổi chiều tối đầu tháng 4 năm 2006, tôi có mặt trên chuyến tàu đến Đà Nẵng tham dự một kì thi cùng thầy giáo và các anh chị sinh viên khác của trường. Lần đầu tiên đi tàu, lần đầu tiên đi một quãng đường xa như thế, lần đầu tiên có cảm giác của một cuộc hành trình thực thụ thoát khỏi thế giới nhỏ, điều này làm tôi rất háo hức, không phải vì kì thi, mà là vì những cuộc gặp gỡ, những đối thoại, những cảnh sắc mà bấu lâu tôi mong chờ giây phúc được tai nghe mắt thấy.

Phòng tôi có 4 người, tôi, thầy Hoàng, một thầy giáo ở Vinh, một chị quê Hà Nội nhưng làm việc cho Viettel ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phòng toàn người lớn nên cũng ít rôm rả, chẳng bù cho phòng bên cạnh, vừa giải quyết xong bữa tối đã bắt đầu khai trương chiếu bài. Cảnh tượng như bao cảnh khác chơi bời của sinh viên, hai chị con gái ngồi túm tụm lại với nhau, mắt nhìn chằm chằm vào chồng bài trước mặt, mặt đăm đăm không biết nên đánh quân nào đi, một anh khác vừa đọc sách vừa đợi đối phương ra tín hiệu, thằng bạn tôi cận nặng thì dí sát mặt vào mấy quân bài khiến tôi có cảm tưởng những quân bài ấy được dán sẵn vào mặt nó. Một thằng bạn khác thì ư ử đoạn nhạc trong bản giao hưởng số 9, lúc ồn ào rộ lên, lúc thều thào, phù phù vì hết hơi. Tôi làm quân sư cho thằng bạn này, có lẽ vì thích Beethoven nên tôi chọn làm quân sư cho nó, và cũng có thể chẳng vì lý do gì cả. Chỉ là một cuộc chơi, một chỗ ngồi - ngồi đâu mà chả được.

Một lát thầy giáo tôi cũng sang, chiếu bài thêm phần rôm rả, có lẽ phần lớn bởi những câu chuyện của thầy. Những câu chuyện về tuổi trẻ nơi xứ người, về những ngày dạy học ở Vinh, về những ngày bôn ba nơi đất Hà Nội, về những điều chưa biết ở đại học của chúng tôi. Cả câu chuyện thầy đi dạy thêm tiếng Anh, dạy thêm Văn, những bí kíp khi thi đại học, cách làm một bài Văn thế nào để được điểm cao, cách kiểm tra bài tiếng Anh như thế nào cho kĩ lưỡng, cách làm thế nào để sống khi trong túi không một có một xu, về sự thật cuộc đại chiến chống 20 vạn quân Thanh của Nguyễn Huệ, rất nhiều rất nhiều .... có những thứ hài hước ngây ngô ở thời đại hiện nay, nhưng có những thứ sâu sắc triết lý chỉ người từng trải mới có thể quan sát và nhận định được. Tôi không phủ nhận rằng đó là những câu chuyện rất hay, rất bổ ích nhưng không hiểu sao nó lại khiến tôi buồn ngủ,  nhất là khi không khí rôm rả ở những câu chuyện đầu tiên đã trùng xuống. Tôi quay sang nhìn thằng bạn mình, cặp kính cận không che được ánh mắt lờ đờ, hai chị con gái thì mắt nhắm mắt mở, gật gù, dựa vào nhau thỉnh thoảng lại giật thót lên nếu nghe thấy một tiếng động mạnh nào đó.

Thầy tôi vẫn kể chuyện!

Cơn buồn ngủ ngày càng dày vò tôi hơn nhưng rõ ràng là tôi muốn nghe những câu chuyện đó và rõ ràng là thầy cũng muốn kể cho ai nghe những câu chuyện đó. Tôi căng mắt, cố gắng ngồi cho vững để nghe đến hết câu chuyện, và cuối cùng nó cũng kết thúc với câu chuyện về một người thầy của thầy tôi. Mọi người lục tục thu dọn, tôi và thầy trở lại phòng, ai nấy đều đã tắt điện đi ngủ từ bao giờ. Chúc thầy ngủ ngon, tôi trèo lên giường tầng 2, nhăn mũi vì mùi chăn chiếu lạ, đặt mình nằm xuống thấy thật dễ chịu và thoải mái khi được nghỉ ngơi. Tiếng tàu lăn bánh xình xịch trên đường ray là âm thanh duy nhất còn tồn tại nơi đây, vậy mà nó không hề gây một cảm giác khó chịu hay ồn ào nào, thậm chí nếu không có nó sẽ chẳng có cảm giác đi tàu nữa. Ngay từ lần đầu tiên tôi đã yêu tiếng tàu chạy, không phải tiếng tàu điện êm ru thần tốc ở Nhật, mà nhất định phải là tiếng tàu hỏa Việt, tiếng tàu hỏa chạy chát chát, xình xịch trong đêm tĩnh mịch.

Tôi nhìn ra cửa sổ những mong một dấu vết cho biết mình đang ở đâu. Chỉ có bóng tối, bóng tối tràn vào căn phòng từ lúc nhìn ra cửa sổ ấy, cảm nhận hương vị của bóng tối, cảm nhận cảm giác căng mắt nhìn, một màu đen tuyền, hư vô, trống trải, bế tắc.

Chợt nghe có tiếng thở dài! Không phải tiếng thở dài của tôi!

Đêm ấy có lẽ vì mệt nên tôi ngủ rất ngon.

Tôi thức dậy từ rất sớm, có lẽ vì lạnh. Tháng Tư bắt đầu một chu kì thời gian mới: ngày kéo dài hơn đêm. Tháng Tư, trong cái oi nồng của thời khắc chuẩn bị sang hè, mọi người sẽ được hưởng những ngày duyên dáng, dịu dàng hiếm hoi nhất trong năm. Tháng Tư, 5h, trời đã sáng, với những cô, những bác đi chợ là bắt đầu một ngày với cả núi công việc, với những bông loa kèn là bắt đầu của một ngày rong ruổi trên những chiếc xe, mang theo sự trong trắng tinh khiết tràn ùa về trên phố phường. Tháng Tư, lẫn trong ngàn chiếc lá nõn nà, những nụ bằng lăng căng mọng, chờ ngày bừng nở trên các ngả đường. Tháng Tư, lắng nghe tiếng chim ríu rít chuyền cành, đậu trên cành cây trước hiên nhà buổi sớm. Tháng Tư với hàng ngàn bướm trắng về bên những nhụy hoa khoe sắc, trên những cánh đồng cỏ xanh mướt trải dài vô tận.

Đấy là những gì tôi đọc về tháng Tư. Đến hôm ấy tôi chưa bao giờ cảm nhận được một tháng Tư như trong sách vở viết. Chỉ có điều tôi thích cái se lạnh của buổi sáng sớm, cũng có thể đó là một trong những điều duyên dáng nhất xuân ban tặng cho tháng Tư. Nhìn ra ngoài cửa kính, đoán mình đang ở Hà Tĩnh, chẳng có lý do gì cả chỉ vì cảm nhận mình đang ở Hà Tĩnh. Không thấy những "cánh đồng muối trắng", càng chẳng thấy "con đò mái cắm sào đứng đợi", bầu trời và những cánh đồng chẳng khác quê mình là mấy, có chăng chỉ một khung cảnh nhạt nhòa qua những giọt sương đọng trên mặt kính, có chăng chỉ là một bầu không khí trong lành, mặn mòi khác hẳn với những gì ngột ngạt, hỗn tạp nơi Hà thành xô bồ.

7h, mọi người trên tàu có lẽ đã dậy gần hết. Nhiều người lục tục xuống ga Đồng Hới, phòng tôi thì chẳng ai xuống. Bữa sáng bắt đầu với những câu hỏi xã giao đêm qua có ngủ ngon không. Thầy giáo ở Vinh chiêu đãi cả phòng món cơm ống tre, chị Viettel mang ra mấy hộp bánh cốm, thầy Hoàng có một chai rượu nhỏ làm bữa sáng thêm giàu hương vị và màu sắc. Trời sáng tôi mới có dịp quan sát đầy đủ hai người cùng phòng với mình. Thầy giáo ở Vinh nước da ngăm đen, đôi mắt sáng, lông mày rậm mở đầu câu chuyện về đại học Vinh với thầy Hoàng. Chị Viettel trên giường tầng 2, tóc dài, cao ráo, khuôn mặt không có vẻ gì đặc trưng lắm, giọng Bắc nhưng không phải là giọng Hà Nội như người ta thường ca ngợi. Có lẽ chị khoảng 28 tuổi, cũng chẳng phải vì tôi nhìn thấy dấu hiệu nào của tuổi 28 - đơn giản vì tôi cảm nhận như thế. Câu chuyện của chị Viettel nối tiếp câu chuyện của hai thầy giáo, về cuộc sống, làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh. Những câu chuyện của 3 người cứ nối tiếp nhau, không có sự liên kết nhưng vẫn cứ nối tiếp như vậy, lan man dàn trải.

Tàu đến Quảng Trị, thầy tôi bảo thế. Tôi không nhìn thấy dấu vết của những năm tháng chiến tranh ác liệt, với những người trẻ tuổi như chúng tôi, ấn tượng qua phim ảnh không sâu sắc đến nỗi nhận ra ngay được những dấu vết sau mấy chục năm. Chỉ có một điều, những cồn cát đập vào mắt, cát trắng xóa, lấp đầy những bụi cây thưa thớt, cả những mái nhà cũng thưa thớt như thế. Thầy tôi nói: "Cát như thế chẳng cây to nào mọc lên được, có chăng chỉ những bụi rậm và con người mới tồn tại được thôi. Đất cằn cỗi nên đứa trẻ nào lớn lên cũng mơ ước thoát khỏi vùng đất ấy.". Tôi và chị Viettel quay ra nhìn nhau, thầy ở Vinh cũng nhìn qua cửa sổ, mắt thầy tôi rưng rưng.

Tôi đã được nghe kể về một câu chuyện 3 chị em mồ côi cha mẹ nơi cồn cát, được một nhà báo đón về Hà Nội nhờ những tổ chức từ thiện giúp đỡ và cả 3 người hiện nay đều đã thành đạt. Người đi nước ngoài, người ở lại Hà Nội làm việc cho một công ty lớn, người định cư ở thành phố Hồ Chí Minh. Cả 3 người đều là học sinh thầy tôi, hơn nữa thầy biết họ từ khi họ ra Hà Nội. Thầy kể về ý chí, về lòng ham học, về cả sự hoang dã, lạ lẫm ban đầu nơi thành phố, nhưng lúc nào cũng quyết tâm vượt lên của 3 chị em. Họ thực sự muốn thoát khỏi vùng đất đó, nhưng vì sao, họ vẫn có thể tồn tại như bố mẹ, ông bà bao đời nay của họ, họ cũng có thể buông xuôi bỏ mặc như bao con người khác trên những miền đất khác của tổ quốc. Thẩy tôi bảo rằng, người chị không thể đành lòng khi nhìn thấy những đứa em mình chịu khổ, người em không thể rời bỏ ước mơ của bố mẹ, rời bỏ ước mơ của bao người khác nơi mảnh đất cằn cỗi. Họ ra đi là để quay về thỏa nguyện những ước mơ ấy.

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Có một đôi mắt đang nhìn tôi. Một bé gái trên nóc nhà đang nhìn tôi. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao em lại ở trên nóc nhà, và tại sao tôi không thể nhớ được hình ảnh em nhưng lại chẳng thể quên được đôi mắt của em dù cách xa hàng chục mét. Sau này khi có dịp nhớ lại tôi còn đặt ra giả thuyết đó là ảo ảnh, không thể có chuyện nhìn rõ đôi mắt với một khoảng cách như thế được. Nhưng cảm giác đôi mắt ấy nhìn là một cảm giác thật, đôi mắt ấy nhìn trông mong, chờ đợi, hi vọng....

Chúng tôi chia tay thầy giáo Vinh ở Huế, rồi chẳng mấy lâu sau đến đèo Hải Vân. Hồi bấy giờ, chưa có hầm Hải Vân nên vẫn còn được thưởng thức cái thú "qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi". Cả lũ sinh viên chúng tôi đổ xô ra xem, chị Viettel cũng đứng cạnh tôi. "Giá có một lần nhảy từ đỉnh đèo xuống nhỉ?". Tôi quay sang há hốc mồm vì ngạc nhiên. Chị Viettel cười, quay trở lại phòng leo lên chiếc giường tầng hai và đọc sách. Một lát sau tôi cũng bước vào, câu đầu tiên tôi hỏi là "Tại sao chị không làm việc ở Hà Nội mà lại đến tận thành phố Hồ Chí Minh" - "Vì có người cần chị ở đó nhóc ạ!". Chị gấp quyển sách lại, quay mặt nhìn tôi, cái nhìn khiến tôi rùng mình, cái nhìn như chứa đựng sự chất vấn - "chả lẽ không có ai cần em hay sao?".

Có ai cần tôi không nhỉ?

Bốn ngày sau, vào một buổi tối, tôi lại có mặt trên một con tàu trở về Hà Nội. Lần này trong phòng chỉ có tôi, Bách và Hùng. Mọi người đã sang hết phòng bên với những chiếu bài. Có các bạn Bách khoa đi cùng nên rôm rả hơn rất nhiều, Hùng và Bách cũng là những người bạn tôi mới quen ở Bách Khoa. Hùng - với thân hình bệ vệ của nó, chấp nhận từ bỏ chiếu bài để dành thời gian gọi điện cho một cô bạn. Chán chê với cái điện thoại cộng thêm với việc đè nén, chèn ép tôi vào một góc, nó cũng đứng dậy đi theo tiếng gọi của cờ bạc. Chỉ còn lại tôi và Bách.

Bách có nụ cười khiến người ta mến ngay từ lần gặp đầu tiên, cộng thêm tình yêu toán và nhạc cổ điển, lối nói chuyện nhẹ nhàng như con gái. Những điều đó đủ để khiến chúng tôi trở thành một đôi bạn thân chỉ sau mấy ngày. Những câu chuyện của chúng tôi xoay quanh những chủ đề toán học, những nhà phát minh, những nhạc sĩ, những bản nhạc cổ điển, những câu chuyện lịch sử,.... Chúng tôi bàn luận về định lý không hoàn hảo của Godel, về bản nhạc Beethoven đề tặng Napoleon, về bài thơ Hà Nội phố của Phan Vũ,...tuyệt nhiên không có một câu chuyện về việc sau này sẽ làm gì, tương lai sẽ ra sao, không có một câu chuyện về những thắc mắc, những câu hỏi trăn trở thường thấy của người trẻ tuổi. Tôi không muốn hỏi Bách những câu hỏi như thế và dường như ngược lại, chúng tôi đang tìm câu trả lời cho bản thân mà không cần đặt câu hỏi.

"Bố tớ bị ung thư, Hoàn ạ".
Tôi im lặng, Bách mân mê cây sáo, mắt nhìn ra cửa sổ: "Nhưng vẫn lạc quan và chiến đấu, tớ cũng vậy!".

Bách quay lại nhìn tôi, cũng là một điều kì lạ, trong ánh đèn ngủ mờ ảo tôi vẫn nhìn rõ đôi mắt Bách, trìu mến, thân thương, ánh lên những tia hi vọng, chờ đợi,....Bạn tôi cất tiếng hát trong đêm, bài đầu tiên chúng tôi hát là "Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh", bên núi Hồng Lĩnh, dòng sông La, đường Đồng Lộc, ....chúng tôi trở về "Hà Nội phố", ngắm nhìn "những ánh sao đêm", đón mùa xuân "làng lúa làng hoa",.....Đêm tĩnh mịch, tiếng tàu chạy đều đều, hai thằng con trai ngồi hát đối diện với nhau, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.

Đêm đen tuyền, hư vô, trống trải nhưng không bế tắc.

Vĩ thanh

Buổi sáng khi đặt chân đến Hà Nội, lần đấu tiên trong đời tôi cảm nhận có những đôi mắt phía trên cao đang nhìn mình, cũng là lần đầu tiên những câu hỏi của người trẻ tuổi không còn làm tôi trăn trở. Những đôi mắt của thầy tôi, của bé gái nọ, của chị Viettel, của Bách, và có lẽ của cả bố mẹ, bạn bè, của rất nhiều người tôi chưa gặp trên mọi miền tổ quốc này đã cho tôi câu trả lời. Ở đâu đó, có đôi mắt chờ đợi hi vọng, có đôi mắt đang cần tôi, không phải hoải bão, đam mê, lý tưởng mà chính những đôi mắt nhiều góc độ ấy đã thôi thúc tôi sống tốt hơn mỗi ngày, thôi thúc tôi trở thành một người trẻ tuổi không tuyệt vọng, thôi thúc tôi biết quan tâm, sẻ chia, biết học được lòng bao dung từ sự ích kỷ, biết cố gắng mỗi ngày, biết khát vọng gắn với thực tế, biết nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

.....
Tháng 7 năm 2006, bố bạn tôi mất. Bạn tôi nói với tôi rằng: "Lúc nào cũng cảm thấy có bố đang nhìn mình".
 ......

Đã bao giờ bạn ngước nhìn lên và bắt gặp một đôi mắt đang nhìn bạn chưa?


4h sáng 01/03/2009